Tin hoạt động VACD

Đẩy khó cho Nhà nước

11/09/2014

“Quản lý nhà nước không phải là dành thuận lợi cho chúng ta (Nhà nước), mà là để tạo thuận lợi tối đa cho người dân, doanh nghiệp đầu tư, kinh doanh, làm ăn”, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đặc biệt nhấn mạnh trong cuộc họp thường trực Chính phủ với các bộ ngành ngày 19-8 vừa rồi. Chỉ đạo thì đã có, nhưng làm thế nào để biến tư duy đó thành thực tiễn hành xử giữa cơ quan công quyền và dân chúng, đặc biệt là trong lĩnh vực cải cách thủ tục hành chính liên quan đến doanh nghiệp?

Bài viết này đề xuất một số nguyên tắc, cơ chế mang tính kỹ thuật cần được thừa nhận và áp dụng để tạo thuận lợi cho doanh nghiệp và người dân.

Nguyên tắc im lặng là đồng ý

Để thực hiện một thủ tục hành chính, đặc biệt là các thủ tục hành chính phức tạp, các cơ quan nhà nước thường phải tham vấn lẫn nhau. Theo cơ chế “một cửa” hiện hành, cơ quan chịu trách nhiệm giải quyết thủ tục hành chính có trách nhiệm xin ý kiến (bằng văn bản) các cơ quan liên quan để có cơ sở giải quyết yêu cầu của doanh nghiệp và người dân.

Ví dụ, để cấp giấy chứng nhận đầu tư cho nhà đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực phân phối, cơ quan cấp phép (các sở kế hoạch đầu tư) phải xin ý kiến bộ quản lý chuyên ngành (Bộ Công Thương) và chỉ khi có ý kiến đồng ý của Bộ Công Thương, các sở kế hoạch đầu tư mới có thể cấp giấy chứng nhận đầu tư cho nhà đầu tư. Tuy nhiên, không phải lúc nào các cơ quan được lấy ý kiến cũng phản hồi đúng hạn. Trong nhiều trường hợp, vì phải chờ đợi ý kiến của cơ quan quản lý chuyên ngành, thời hạn giải quyết thủ tục hành chính bị kéo dài một cách đáng kể so với thời hạn do pháp luật quy định.

Để chấm dứt tình trạng này, cần có quy định mang tính nguyên tắc, theo đó, sau một thời hạn nhất định, nếu cơ quan được hỏi ý kiến không có hồi đáp thì được coi là “đồng ý” với yêu cầu của doanh nghiệp. Nguyên tắc “im lặng là đồng ý” này, nếu được chính thức ghi nhận và áp dụng, sẽ tăng trách nhiệm phản hồi và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước, do đó, đẩy nhanh một cách đáng kể quy trình giải quyết thủ tục hành chính. Tất nhiên, các cơ quan nhà nước chắc hẳn sẽ không “vui vẻ” gì với quy tắc ứng xử này vì chính họ phải chịu sức ép lớn về thời gian chứ không phải là người dân và doanh nghiệp.

Doanh nghiệp được chủ động lựa chọn quy trình

Theo thống kê gần đây của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, để triển khai một dự án đầu tư có sử dụng đất, xây dựng và liên quan đến môi trường thì chủ đầu tư phải thực hiện trung bình khoảng 18 thủ tục hành chính khác nhau. Các thủ tục hành chính này được quy định tại hàng chục văn bản pháp luật, từ cấp luật, nghị định đến thông tư và thậm chí là rất nhiều văn bản hướng dẫn của các chính quyền địa phương khác nhau. Chưa nói đến sự chồng chéo, mâu thuẫn và không rõ ràng trong bản thân các quy định pháp luật, hay khó khăn từ cơ chế “xin - cho”, ngay việc xác định thủ tục nào cần làm trước, thủ tục nào sau cũng đã là thách thức không nhỏ đối với doanh nghiệp.

Đó chỉ là một ví dụ thể hiện sự phức tạp của quy trình thực hiện thủ tục hành chính. Để giảm độ phức tạp này, cần nghiên cứu để ghi nhận nguyên tắc một số thủ tục hành chính có thể được tiến hành đồng thời, hoặc theo lựa chọn của doanh nghiệp trong một số trường hợp cụ thể. Không nghi ngờ gì nữa, nếu được áp dụng, nguyên tắc này có thể coi là bước đột phá vì nó có thể giải quyết triệt để câu chuyện “con gà, quả trứng” vốn vẫn tồn tại lâu nay trong nhiều bộ thủ tục hành chính.

Ngoài ra, nguyên tắc này cũng tạo thuận lợi rất lớn cho doanh nghiệp khi họ có quyền chủ động đáng kể trong việc quyết định thứ tự thực hiện các thủ tục hành chính. Tất nhiên, trong trường hợp này, các cơ quan nhà nước là bên chịu thiệt thòi vì họ buộc phải “kiểm tra chéo” lẫn nhau để đảm bảo sự thống nhất trong thực hiện bộ thủ tục hành chính cho doanh nghiệp.

Quyền tiếp cận thông tin

Không chỉ khó khăn trong việc xác định các bước thực hiện thủ tục hành chính, doanh nghiệp sau khi nộp hồ sơ, được cơ quan nhà nước xác nhận đã nộp đủ hồ sơ hợp lệ, sẽ bước vào giai đoạn chờ đợi yêu cầu được giải quyết. Thời gian chờ đợi có khi lên đến vài tháng, doanh nghiệp thường “mất liên lạc hoàn toàn” với bộ hồ sơ đã nộp cho đến khi nhận được câu trả lời cuối cùng và chính thức từ phía cơ quan nhà nước.

Các thông tin mà doanh nghiệp mong muốn được cung cấp có thể bao gồm: yêu cầu đang được giải quyết ở công đoạn nào, cá nhân cụ thể nào chịu trách nhiệm giải quyết, cơ quan nào đang xem xét, cơ quan nào đã xem xét và có ý kiến, cụ thể các ý kiến đó như thế nào, dự kiến ngày yêu cầu sẽ được giải quyết. Nếu có các thông tin này, doanh nghiệp có thể dự liệu được khả năng được chấp thuận hay bị từ chối yêu cầu và thời hạn giải quyết yêu cầu, để từ đó doanh nghiệp chủ động xây dựng kế hoạch kinh doanh. Nhu cầu tiếp cận thông tin, vì thế, là một nhu cầu chính đáng, hợp lý của doanh nghiệp và cũng phù hợp với quyền tiếp cận thông tin của công dân được Hiến pháp bảo hộ. Về phía cơ quan nhà nước, việc cung cấp thông tin về hiện trạng giải quyết thủ tục hành chính cũng nằm trong chức năng, nhiệm vụ được giao.

Vậy nên, tại sao không quy định một cơ chế chính thức và toàn diện về cung cấp thông tin giữa cơ quan nhà nước về người dân trong lĩnh vực giải quyết thủ tục hành chính. Cơ chế này, nếu có, sẽ nâng cao tính minh bạch trong việc thực hiện các thủ tục hành chính và tất nhiên tạo thuận lợi rất lớn cho doanh nghiệp và người dân.

Nghĩa vụ chứng minh

“Người có yêu cầu phải chứng minh cho yêu cầu của mình” - đây là một nguyên tắc cơ bản trong tố tụng dân sự và có lẽ cũng cần được áp dụng triệt để cho việc xây dựng, thực thi các thủ tục hành chính. Cụ thể, cơ quan nhà nước khi đề xuất, xây dựng, thiết kế một quy trình hành chính nhất định cần chứng minh một cách thuyết phục tính cần thiết và hợp lý của quy trình đó.

Thực ra, vấn đề này cũng đã được pháp luật (Nghị định 63/2010 về kiểm soát thủ tục hành chính) quy định nhưng dường như cơ chế thực thi chưa hiệu quả khi cơ quan nhà nước vẫn ban hành rất nhiều thủ tục hành chính bị phản ánh là quá phức tạp không cần thiết trong thời gian qua. Do đó, để đơn giản hóa thủ tục hành chính, nên nghiêm túc yêu cầu cơ quan nhà nước thực hiện “nghĩa vụ chứng minh” như đã nêu. Gần đây, Bộ Tài chính sửa đổi thủ tục hành chính trong lĩnh vực thuế và Bộ Tài nguyên Môi trường ban hành bộ thủ tục hành chính trong lĩnh vực đất đai theo hướng đơn giản và minh bạch hóa là các chỉ dấu cho thấy sự vận động theo chiều hướng tích cực này.

Các đề xuất mang tính kỹ thuật như phân tích ở trên chỉ là giải pháp hỗ trợ, tạo thêm rào cản, ràng buộc trách nhiệm người thực thi pháp luật. Quan trọng hơn, cần thay đổi tư duy con người nếu muốn thực hiện cải cách một cách triệt để.

Tác giả: Ngô VIệt Hòa (Công ty Luật Russin&Vecchi)
Nguồn: Thời báo Kinh tế Sài Gòn
Hội viên mới
  • Công ty TNHH Tư Vấn Mekong Capital
  • Công ty cổ phần truyền thông và công nghệ Quản lý
  • Công ty cổ phần phát triển TM & DL Quốc tế ngôi sao (Ha)
  • Công ty cổ phần XNK thủy sản Hà Nội
  • Công ty cổ phần Chứng khoán MB